Chùm thơ viết về chiến tranh

(Hành quân ra trận – Ảnh st)

  1. Chiến tranh…

Vũ Đan Thành

 

Chiến tranh qua lâu rồi

Có mấy ai nhắc lại

Cái thời đạn bom rơi

Cái thời còn khói lửa.

 

Chiến tranh mẹ xa con

Chiến tranh ai còn mất

Chiến tranh chia đôi ngả

Cuộc tình nào chia phôi.

 

Nghe mẹ tôi kể lại

Ngày anh trai ra trận

Có cô bạn tiễn đưa

Đi qua quãng đê dài.

 

Mẹ quay về nhà trước

Chỉ còn hai người thôi

Họ đứng trên đê mãi

Bịn rịn lâu mới về.

 

Gần chục mùa thu qua

Vào một ngày thu ấy

Đơn vị mang giấy báo

Anh không thể trở về.

 

Chiến tranh là như thế

Người đi không trở lại

Nhưng bóng hình ngày ấy

Vẫn in vào mùa thu…

 

  1. Việt Nam cuộn sóng

Vũ Đan Thành

 

Việt Nam ơi

Bốn ngàn năm ra trận

Có nơi nào trên thế gian này

Ta dẫu muốn cầm cày trên thửa ruộng

Mà cha ông đã khai phá ngàn đời

Ta dẫu muốn hàng ngày đưa con đến trường đến lớp

Học những điều nhân nghĩa của thế gian

Ta dẫu không muốn

Lũ giặc kia phải phơi thây đền tội

Bởi vì ngươi cũng có mẹ có cha

Cũng còn có con thơ vợ dại

Tổ tiên ta ngàn đời nay đã dạy

Những người con trai và những người con gái

Khai phá rừng hoang biển bạc khơi xa

Bao máu xương và mồ hôi ta đã đổ

Mới có cơ đồ nước Việt hôm nay

Người bất nhân bất nghĩa chẳng xá gì

Xông đến cướp mà không hề hổ thẹn

Ngàn trùng xa máu xương ta từng đổ

Và có thể những người con yêu dấu sẽ không về

Nhưng tất cả chúng ta đã nguyện thế

Quyết không để lũ giặc kia lấn tới

Hỡi anh em

Ta không thể tiếc máu xương mình!

 

  1. Bên dòng sông Thạch Hãn

Vũ Đan Thành

Bên dòng sông Thạch Hãn

Nước vẫn trôi êm đềm

Không còn con đò nhỏ

Chiến tranh quá xa xôi?

Người cũng không về nổi

Thời gian con nước trôi

Tháng năm đạn bom rơi

Bao máu xương đã đổ…

Một thời sóng xô bờ

Những người tuổi đôi mươi

Ra đi không trở lại

Còn dòng sông êm đềm…

 

Bên dòng sông Thạch Hãn

Hoa trắng vẫn nở tràn

Trôi dòng nước miên man

Bên dòng sông nước chảy.

 

Những người trai năm ấy

Đã ra đi không về

Nước sông trôi lặng lẽ

Một thời đạn bom rơi

Một thời nào xa xôi…

4. Chinh chiến ngày về

Vũ Đan Thành

Áo lính phai màu sương gió dội

Chinh phụ ngóng trông nhạt má hồng

Tâm tưởng ngày đi tình ngây ngất

Gió mưa bom đạn chiến trường xa.

Quê nhà mong ngóng tình cô phụ

Gối chiếc đêm trường chốn lẻ loi

Ngày về màu khói bay thảng thốt

Sương đọng mờ xa bóng nhạt nhòa…

5. Viết cho những người đã ra đi

Vũ Đan Thành

(Hãy để người đang sống được bày tỏ nỗi niềm với hàng triệu người đã yên nghỉ vì cuộc chiến tranh. Đừng vội quy chụp người viết với từ “xét lại”)
Ví dù không có chiến tranh
Hai miền nam bắc tiến nhanh hai đường
Chắc là sẽ bớt đau thương
Bao nhiêu người đã vợ chồng có đôi.

“Giặc” kia đâu nổi làm gì
Thiên đường miền Bắc dựng xây riêng mình
Dốc lòng dốc sức chiến tranh
Hao người tốn của hỏi rằng có hơn.

Quyết tâm đốt cháy Trường Sơn
Bao nhiêu năm đó mỏi mòn tan hoang
Vinh quang xây xác người Nam
Ngoại bang bè bạn đạn bom đứng nhìn.

Ba mươi năm dốc sức mòn
Mười năm biên giới hỏi còn mùa xuân
Đời người chỉ có một lần
Phải nằm yên nghỉ tuổi xanh héo tàn.

Vinh danh dẫu có vạn ngàn
Cũng không khỏa lấp nỗi buồn nhân gian
Ở đâu trái đất xoay vần
Ấm no hạnh phúc yên lành vậy thôi.

Chiến tranh thời đã qua rồi
Chỉ ai nằm xuống ngậm ngùi khói hương
Trăm năm rồi sẽ tỏ tường
Ngàn năm mới biết con đường ta đi…

 

  1. Những bài thơ về chiến tranh

Vũ Đan Thành

Đọc những bài thơ viết về chiến tranh
Có màu xanh áo lính
Về cả những cuộc tình
Thuở chinh chiến đi xa.

Đọc những áng thơ chói lóa cánh rừng hoa
Nở trên nấm mồ người chiến sỹ
Đường ra trận
Thấy vui sao như ngày hội.

Đọc những vần thơ viết theo chủ đề ca ngợi
Cuộc chiến tranh
Ta tự hào bởi đã giành thắng lợi
Vùi quân thù xuống tận đất đen.
Tôi chưa hiểu lắm
Những con người hai tay đang giương súng
Có vui không có nhớ mẹ nhớ cha
Nhớ cả bạn bè và một người con gái.

 

Những vần thơ viết từ phía ấy
Chỉ có thể hiểu niềm vui một nửa của cuộc đời
Những bài thơ chỉ viết về một nửa thôi
Có bao giờ cắt nghĩa nổi…

7. Còn lại gì sau vinh quang
Vũ Đan Thành

Còn lại gì sau tấm huân chương
Những tháng ngày đã mất
Người lính già tóc bạc gió sương
Thường hay nghĩ
Về những người đồng đội
Đã chẳng thể trở về
Đi dọc theo cuộc chiến chinh ngày ấy.

Rất nhiều người
Những khuôn mặt còn măng tơ
Vài tháng trước thôi
Vẫn đến trường đến lớp
Những cậu lính mới
Áo quần còn xúng xính
Mới đêm qua đã nằm lại chiến hào.

Những khuôn mặt hao hao già trước tuổi
Sau đằng đẵng những tháng trời lặn lội hành quân
Trong ba lô chứa đựng những gì
Chiếc bi đông đựng nước bên mình không thể thiếu
Nhật ký cũng không
Cả bóng hình người con gái.

Những chàng trai mang trên mình súng ống, lương khô, đạn dược, áo quần
Họ ra đi nào có ngại chi
Mong ngày quay trở lại
Chẳng biết được rằng
Bao người mẹ khóc trong đêm.

Còn lại gì sau tấm huân chương vào sinh ra tử
Lửa đạn
Bom rơi
Những lời nhắn làm sao nhớ hết
Của những người gửi gắm phút lâm chung
Không nhớ nổi
Đất miền quê nào vừa bước vội
Ngày mai đến nơi nào.

Người lính nay đã già như thấy mình có lỗi
Bởi đã bỏ quên
Bởi không nhớ hết từng ngày
Phía sau ánh hào quang một thuở
Những khuôn mặt người
Từng đã nhớ đã quên
Phía sau tấm huân chương
Bao nhiêu người nằm xuống
Chẳng biết tên.

Chiến công nào cũng được xây lên
Bởi những thân người nằm xuống
Vinh quang ư?
Nào có thể sánh bằng
Được gặp lại những người đi trong đoàn quân ngày ấy
Ngày trở về
Vẫn được mẹ gọi tên…

8. Mây khói biên thùy
Vũ Đan Thành

(Viết cho ngày 17 – 2 – 1979)
Ai người thắp nén nhang thơm
Vẫn là mẹ, anh chị em với cùng
Những người đồng đội từng chung
Chiến hào khói súng biên cương năm nào.

Những nhà chép sử hỏi sao
Xóa đi cuộc chiến tự hào Việt Nam
Bán đi truyền thống vẻ vang
Mua về mười sáu chữ vàng long lanh.

Để người lính chiến áo xanh
Ngậm ngùi sương khói mong manh mây chiều
Hoàng hôn rồi cũng đổ xiêu
Những vì sao tắt cô liêu đã tàn.

Cốt xương rồi mãi cũng tan
Nhục nào còn đó nhát gan ươn hèn
Biên cương màu khói phủ lên
Tên anh vô nghĩa nằm yên lạnh lùng.

Nước non rừng núi điệp trùng
Nghĩa trang vắng bóng trăng suông nhạt mờ
Ai người bội nghĩa vong nô
Ai không quỳ gối tôn thờ ngoại bang.

Ngày đêm gìn giữ biên cương
Non sông tấc đất máu xương biên thùy.

9. Người kém may trong cuộc chiến
Vũ Đan Thành

(Viết sau ngày 27 – 7)
Người ta viết “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”
Mà câu thơ leo lên đỉnh điểm vinh quang
Ông lại coi chiến tranh như ngục tối địa đàng
Làm tôi muốn đi tìm vinh quang hụt hẫng.

Hàng triệu người sẵn sàng lao lên tìm cái chết
Ông lùi lại ngắm nhìn ủ rũ nỗi buồn thương
Kìa trông những người anh hùng dũng sỹ
Đang sãi cánh bay thấp thoáng phía thiên đường.

Còn ông hèn nhát lùi về cùng người vợ
Đẻ sòn sòn mấy đứa con rồi suốt ngày giặt giũ
Tã lót áo quần rồi lăn lộn với mưu sinh
Ôm nỗi buồn đau của những cuộc chiến chinh.

Những bạn bè của ông không trở về ngày đó
Họ đã được tạc vào tượng đài vĩnh cửu ngàn năm
Ngày hôm qua trước một ngày 27 tháng 7
Những đoàn người ôm bó hoa tươi roi rói.

Ông đang sống trong căn nhà già dần theo tuổi tác
Ôm những đứa cháu nội ngoại ở trong lòng
Ông bảo với chúng rằng ông thật là may mắn
Bởi đã trở về nên có hẳn đàn cháu yêu.

Nhưng tượng đài oai phong ngoài trời gió sương lẫm liệt
Lại bảo rằng ông mới là người lính thật kém may…

 

  1. Nhớ ngày nhận tin anh báo tử

Vũ Đan Thành

 

Cái ngày bộ đội anh đi

Tờ mờ ban sáng mưa rơi đầu làng

Mẹ và ai đó vội vàng

Tiễn anh em vẫn mơ màng chẳng hay.

 

Ngày ngày đâu cũng bám đuôi

Anh đi bắt cá em chơi trên bờ

Anh đi lính chiến em chờ

Sau này khôn lớn mơ theo bước đường.

 

Mười năm đằng đẵng chờ mong

Mẹ cha nào biết dọc đường hành quân

Chiến tranh rồi mãi cũng tàn

Vẫn không thấy bóng hình anh trở về.

 

Cuối mùa đông ấy não nề

Nhận tin báo tử dầm dề giọt mưa

Mẹ không khóc giữa ban trưa

Em thời đủ lớn biết vừa mất anh.

 

Người làng quanh mái nhà gianh

Nén nhang nghi ngút mời anh quây quần

Hồn anh qua ngõ làng Tâng

Cùng cơn gió lạnh trào dâng men đường.

 

Anh về quê đó biết không

Cánh chim đã gãy khóc không thành lời

Đất trời mưa bụi rơi rơi

Thành màu nhung nhớ một trời biệt ly.

 

Từ hồi chiến trận ra đi

Trong anh đã quyết một đi không về

Làng quê đất vẫn mải mê

Cha thời đất Quảng chưa hề hay tin.

 

Có người bạn gái lặng im

Trót thương bỏ mặc tuổi xuân mỏi mòn

Một thời vì nước vì non

Một trời nhung nhớ vẫn còn còn khắc ghi…

11. Người lính về từ cuộc chiến
Vũ Đan Thành

Anh đi lính năm mười bảy tuổi
Ngót ba mươi chiến thắng trở về
Đâu có biết cầm cày cầm cuốc
Luá ngô khoai mùa vụ đâu tường.

Họ trồng trọt chăn nuôi khá giả
Anh nhọc nhằn mãi chỉ đủ ăn
Nhà đơn sơ bên căn nhà lớn
Người chiến binh sức lực đã chồn.

Bố mẹ khuất vợ con đau yếu
Thất thập nhìn trợ cấp khó khăn
Người lính trở về từ cuộc chiến
Hậu quả âm thầm mấy ai đã hiểu.

Chiến tranh quá xa giờ tóc trắng
Vẫn nhọc nhằn nào có kể công
Ngẫm cuộc đời vẫn còn may mắn
Đồng đội nằm nơi chiến trận xa.

Giờ thương tật cái nghèo đeo đuổi
Anh nào cập nhật những kỹ năng
Cuộc đời là cặm cụi lo toan
Cạnh những nhà giàu sang xa xỉ.

Người lính trở về sau cuộc chiến
Cuộc đời lảng vảng mãi trong tôi…

12. Chiều Quảng Trị
Vũ Đan Thành

Quảng Trị một chiều
Ngọn gió thổi mông lung
Những cánh đồng xanh đã sang mùa cỏ áy
Nơi gìn giữ một thời đạn bom lửa khói
Thành Cổ hoang phiêu
Hằn dấu tháng năm dài…

Quảng Trị một chiều sông nước chẳng nguôi ngoai
Tháng năm đi qua
Cuộc đời là hiện tại
Gió vẫn buồn vẫn thổi bến sông sâu.

Dẫu một mai sóng đôi bờ bình lặng
Màu khói bay
Sợi tóc trắng màu mây
Quảng Trị ban chiều ai dừng chân nơi đó
Ngỡ gặp chuyến đò đầy
Mầu ngọn nến hóa lung linh.

Về đây bên dòng Thạch Hãn đã yên bình
Thu đã đi qua
Mùa đông đang về lạnh giá
Qua nơi đây vẫn nghe vọng từng âm thanh cuộc chiến
Cầu mong những linh hồn người lính giấc ngàn thu.

Thành Quảng Trị một thời bom lửa đạn
Chiến tranh quá lâu rồi
Cuộc sống vẫn gian nan
Chiều Quảng Trị mùa đông đang ở đó
Có thể ngày mai
Mưa rắc bụi sương mờ…

 

  1. Hoa sữa ơi

Vũ Đan Thành

Ngày xưa hoa sữa nở ven đường

Nào có mùi hoa hương thoảng bay

Mầu hoa ấy mà sao bình dị

Em nhận chùm hoa ấy là em.

 

Chàng trai mới bảo sao khôn thế

Hay anh là màu lá xanh xanh

Và những chiều cuối thu phố vắng

Cả hai ngồi dưới bóng cây xanh.

 

Thuở ấy vẫn đang thời chiến tranh

Anh khoác áo màu xanh ra trận

Em cũng vào hỏa tuyến dân công

Chia tay nhau trong mùa hoa sữa.

Dưới bóng cây họ đã hẹn cùng

Chiến tranh qua không ai trở lại

Hoa sữa biết bao mùa ngóng đợi

Mãi nên mùi hương hoa tỏa bay.

Truyện cổ tích không xa là mấy

Hỏi còn ai nhớ một chuyện tình

Hoa sữa ơi hương bay ngóng đợi

Chàng trai cô gái đã không về…

 

  1. Lỡ hẹn mùa hoa sim

Vũ Đan Thành
 

(Viết tặng những người lính trẻ đã nằm xuống biên giới phía Bắc, mùa xuân năm 1979)

Biên giới Cao Bằng mùa xuân năm ấy

Có chàng lính trẻ tuổi đôi mươi

Xa nhà đã hai năm rưỡi

Mùa xuân viết thư tình cho bạn gái

Chỉ khoe về mỗi đồi sim

Rồi hẹn năm nay mùa xuân năm cuối

Đưa người yêu

Đến ngắm hoa

 

Sáng ây

Anh ngắm nhìn rừng hoa sim từ trên chốt

Bỗng nghe loạt pháo vang rền

Vùng biên

Giặc tràn lên khắp ngả

Kín cả chân đồi tím hoa sim

Đồng đội và anh

Lọt trong vòng vây quân giặc

Ba ngày sau giặc mới tràn qua

Khi tiếng súng cuối cùng trên đỉnh đồi tắt lịm

Chỉ còn ngơ ngác tím

Hoa sim

 

Em ơi mùa xuân hoa lỗi hẹn

Ba nhăm năm rồi anh còn vẫn lỡ hẹn một mùa hoa…

 

  1. Người lính Võ Nguyên Giáp
    Vũ Đan Thành
     

Ông là một NGƯỜI LÍNH

Rời giảng đường Hà Nội

Vào rừng xanh dựng lên đội kiêu binh

Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Ngày đó

Vẻn vẹn có

Ba mươi tư người.

Đội quân lớn nhanh như màu xanh cây lá

Điệp điệp trùng trùng gió cuốn mây trôi

Dưới cờ sao Hồ Chí Minh
Bất diệt

Kiêu hùng

Bách chiến

Bách thắng!

Vang dội những chiến công sử sách còn ghi

Chấn động địa cầu

Giặc thù tan tác

Khiếp sợ

Không thể

Nào ngờ!

Không cần nhắc tên những chiến công còn đó

Mấy mươi triệu người Việt Nam

Đã khắc sâu trong lòng những hiển hách năm xưa

Vang dội núi sông bốn biển năm châu

Khiến kẻ thù dù ở nơi đâu

Cũng ngả mũ

Cúi đầu…
Những người chiến binh

Trong đoàn quân màu xanh ấy

Dù có nằm xuống

Trong những trận chiến gian nan

Những người lính đi trong đoàn quân của ông

Ròng rã hơn ba mươi năm trường chinh

Dãy Trường Sơn ngả mình bất tận

Có nơi nào trên thế gian này dòng người dài như thế

Biết bao người đã không thể trở về

Sau ngày toàn thắng…

Những người chiến binh kiêu hùng

Họ đã chết trong một niềm kiêu hãnh

Vì nhân dân

Những người trở về trong tự hào vì đã được bước đi

Trong đoàn quân oai hùng của ông ngày ấy…

Chiều hôm nay trái tim người ngừng đập

Một trăm lẻ ba mùa thu đã đi qua mái đầu trắng tóc…

Xin đừng khóc – Người không muốn vậy!

Hãy vui lên để tiễn đưa một NGƯỜI LÍNH

Về tột cùng vinh quang!

(Bài thơ được hoàn thành vào nửa đêm ngày 04 tháng 10 năm 2013, ngày mất của ông)

 

  1. Mẹ lại trao chúng con bồng súng

Vũ Đan Thành

 

Mẹ đâu muốn chúng con thương tích đầy mình

Nhưng mẹ ơi

Khi giặc thù đang tàn phá

Chúng con sẵn sàng lên đường

Vì một mẹ

Việt Nam.

Đã bao cuộc chiến tranh

Tràn qua mảnh đất dịu dàng

Ở nơi đó có những cánh đồng cò bay thẳng cánh

Những vần thơ đang ngủ trong những mái nhà yên

Những núi đồi xanh nhấp nhô xanh trùng điệp

Và biển xanh ngày đêm sóng vỗ rì rào

Mẹ đã thả những cánh hải âu vào gió lộng

Để chúng con được ngắm nhìn trời biển rộng mênh mông.

Ngày hôm nay có kẻ thù lòng lang dạ sói

Đang khoét vào

Trái tim mẹ yêu

Chúng con luôn tư thế sẵn sàng

Tám mươi triệu người con của mẹ

Đã đang bồng súng

Đợi chờ…

 

  1. Tượng đài

Vũ Đan Thành

 

(Viết cho ngày 27 – 7)

Người ta xây những tượng đài

Để những chiến công hóa đá

Những người lính tuổi hai mươi

Ngàn năm đá chẳng mòn phai.

 

Những chàng quá đỗi trẻ trai

Chắc gì nắm tay con gái

Hồn giờ vấn vương ngài ngại

Bồng bềnh quanh mẹ mà thôi.

 

Mẹ ngoài tám chục tuổi rồi

Vẫn coi anh còn bé bỏng

Mới hơn mười bảy tuổi đầu

Ra đi chiến trường biền biệt.

 

Tuổi xanh quê nhà gởi lại

Bóng hình người lính là anh

Màu xanh áo quần rộng thế

Như chàng lính trẻ thiếu niên.

 

Những chàng lính trẻ hồn nhiên

Chẳng thích tượng đài vĩnh viễn

Các anh suốt ngày quanh mẹ

Mẹ giờ tám chục mùa xuân.

 

Tượng đài nguy nga tráng lệ

Sao bằng bóng mẹ hao gầy

Sao bằng tóc trắng mẹ bay

Anh về tóc mẹ gió lay…

 

  1. Bến bờ Hiền Lương

 Vũ Đan Thành

 

(Cảm tác từ bài thơ “Dòng sông vĩ tuyến” của Nguyễn Đức Minh)
Chiều Hiền Lương một thuở đạn bom
Bao nhiêu người lính đã đi qua dòng sông Bến Hải
Bao nhiêu người ai nhớ nổi khi ranh giới đã cắt chia
Đã bao người đi vòng qua Trường Sơn hùng vĩ
Để đốt cháy những chia lìa ly tan
Những người lính bộ hành một thuở súng ngang vai
Đi vòng qua dòng sông ngày ấy
Có bao người đạn bom ngã xuống
Núi Trường Sơn điệp điệp trùng trùng
Như chuyển mình rùng rình những đoàn quân màu lá
Cầu Hiền Lương im lìm từng bốt gác đứng trong đêm
Có nghe tiếng gà gáy sáng
Vĩ tuyến 17 vô hình chỉ có bến sông Hiền Lương là hiển hiện
Màu xanh áo lính
Hiển linh
Kìa như gió rung rinh bên bờ sông hoa nắng
Như những bóng ai vô hình
Những bóng ai vô tình
Vừa vội lướt dòng trôi
Cách xa nửa cuộc đời chinh chiến mãi chẳng thể nhạt nhòa
Bỗng chợt nhận ra
Nước dòng sông chiều nay như trôi trong tiềm thức
Nếu như những chàng trai ngày ấy đã có thể trở về
Bên những người mẹ hiền yêu dấu
Ngày đêm đau đáu ngóng trông
Có ai đó gọi những câu thơ là yếu đuối
Họ hiểu gì đâu khi chưa từng thấy người mẹ già trong giây phút lâm chung
Vẫn cố mở mắt thêm lần nữa
Đợi người con trai yêu dấu
Trở về…
Vĩ tuyến 17 ngày đêm
Cầu Hiền Lương dòng sông Bến Hải
Còn lại gì những não nề khi bàn chân đang bước
Không còn thấy âm thanh rầm rập ngày nào
Chỉ một chiều cỏ trắng gió nao nao…

 

  1. Hai nấm mồ người lính
    Vũ Đan Thành 


(Viết cho ngày 27 – 7 – 2016)
Hai người lính trẻ đôi mươi
Hai nấm mồ xưa đã cũ
Cỏ lan man một màu xanh
Hai người lính không quen biết.

Hai bên giới tuyến phân tranh
Giữa thời đạn bom khốc liệt
Đâu lòng thù hận với nhau
Cách nhau dòng sông vĩ tuyến.

Hai người lính thuở chiến tranh
Chung nhau một dòng máu Việt
Khác thôi hai bờ chiến tuyến
Tôi bắn tim anh gục xuống.

Miệng hô thừa thắng xông lên
Nào đâu loạt đạn vang rền
Từ bên kia bờ vang vọng
Tôi đổ người xuống lưng anh.

Hai người hai bên trận tuyến
Có còn thù hận nữa chăng
Làm sao hai người biết được
Kẻ thù chúng núp sau lưng.

… Một ngày bóng hai người mẹ
Gặp nhau nước mắt lưng tròng…

 

  1. Nỗi đợi chờ chiến tranh

Vũ Đan Thành

 

(Nhân dịp 22 – 12 – 2013)

Có những đợi chờ trong im lặng

Người trở về sau một cuộc chiến tranh

Có bao nỗi đợi chờ rất mong manh

Khi người lính đã bặt tin suốt chiều dài chinh chiến.

 

Anh có trở về hay là không?

Không ai biết anh còn hay đã hy sinh

Trong cuộc chiến giành quyền để sống

Quyền độc lập tự do và danh dự.

 

Của ngàn đời trao cho các anh

Dù anh đã hy sinh hay trở về từ bom đạn

Nơi cái chết ngày đêm rình rập

Cũng chỉ là một phần cuộc chiến mà thôi.

 

Còn một cuộc chiến ở sau lưng anh đó

Là đợi chờ nhung nhớ có khi là vô vọng đến xót xa

Là nỗi lòng của người cha thầm lặng

Và nỗi quặn đau của người mẹ đã sinh thành.
.

Những đứa em dại khờ đòi quà anh lần về phép

Còn ai nữa có phải cô hàng xóm

Hay người vợ trẻ bồng con thơ

Dúi vào tay anh một chiếc khăn tay thêu hình đôi chim bằng chỉ thắm.
.

Khi anh bước ra đi vào chốn ấy sa trường

Là nỗi nhớ thương lỡ cả một đời con gái

Đâu có chỉ là súng đạn bom rơi

Ngày trở về những ai còn ai mất.
.

Ai được nhìn những dòng lệ đẫm rơi rơi…

 

  1. Hạt phù sa quê mẹ

Vũ Đan Thành

 

Quê anh ruộng trũng lúa chiêm

Ven dòng sông Hồng nơi ấy

Những dòng phù sa mãi chảy

Đọng từng câu hát lời ru.

 

Cánh cò hồi đó phiêu du

Bay qua mùa thu giấc ngủ

Bay vào cơn mơ xưa cũ

Mẹ ru anh lớn từng ngày.

 

Phù sa thẫm ướt vai gày

Cánh cò bay la bay lả

Nhuộm bàn chân hạt phù sa

Tiễn anh ngày ấy lên đường.

Xông pha lửa đạn chiến trường

Có màu phù sa đỏ mọng

Mắt người từng nhớ từng mong

Anh không về lại dòng sông.

Đôi bờ hoàng hôn khuất bóng

Mấy chục năm mẹ không còn

Người xưa ngóng đợi mỏi mòn

Sang đò dòng sông nước chảy.
Bao năm mới được sum vầy

Đồng đội đưa anh yên nghỉ

Dòng sông lan màu hương khói

Cánh đồng lúa trĩu vàng bông.

 

Nắng chiều dòng sông bảng lảng

Sông Hồng làng quê nơi đó

Có màu nước trôi mọng đỏ

Phù sa ôm trọn thân anh…

 

 

 

Cùng chia sẻ bài viết này

Facebook